2 cây hoa đẹp chữa nhiều bệnh
Vào những ngày cuối năm âm lịch, tiết trời se lạnh, người dân ở nhiều nơi
háo hức muốn đến tận nơi để chiêm ngưỡng vẻ đẹp mê hồn của những cánh đồng hoa
tam giác mạch ở vùng núi cao tỉnh Hà Giang, hay thưởng ngoạn cái sắc vàng rực rỡ của hoa cải canh ở một vùng đất
bãi ven sông sông Hồng. Từ những thảo dược bình dị như tam giác mạch, như cải
canh..., nếu biết vận dụng vào du lịch sinh thái thì những thảo dược này sẽ
sinh ra những “lợi kép” cho những người nông dân địa phương.
Cây tam giác mạch hay
còn gọi là mạch ba góc (Fagopyrum sagitratum Gilib.), họ nghể (Polygonaceae). Ở
Việt Nam, tam giác mạch mọc phổ biến ở vùng núi, phía Bắc như Hà Giang, Lào
Cai, Cao Bằng...
Tam giác mạch là cây thảo,
cao khoảng 0,5-1,5m. Thân nhẵn, màu lục hoặc màu đỏ tía. Lá đơn có cuống dài,
mọc so le, hình tam giác. Vì thế mà cây mang tên “tam giác” hay “ba góc” lại
cho hạt làm lương thực nên gọi là “mạch”.
Tam
giác mạch chứa hợp chất rutinosid (7,92% trong lá, 4,5% trong hoa và 1,4% trong
thân cây); còn có các chất quercetin, hyperin, tanin... Rutin làm giảm tính
thấm của mạch máu, làm bền các mao mạch, hạ huyết áp, phòng các tai biến về
mạch máu.
Theo
Đông y, tam giác mạch có vị ngọt, tính mát, quy vào các kinh tỳ, vị và đại
tràng. Có tác dụng khai vị, khoan tràng, hạ khí, tiêu tích.
Lá non
tam giác mạch ăn sống hoặc nấu canh rất ngon và còn giúp cải thiện sức nhìn của
mắt, sức nghe của tai. Hạt tam giác mạch có thể xay ra lấy bột làm bánh hoặc để
nấu rượu, để chăn nuôi gia súc. Lá, thân và hoa là dược liệu chứa rutin, có thể
dùng trong các bệnh xơ vữa mạch máu, xuất huyết, tăng huyết áp. Có thể dùng từ
8-10g (lá), 12g (hoa) hãm hoặc sắc uống nhiều lần trong ngày. Để chữa các bệnh
viêm ruột, lỵ, đường ruột bị tích trệ, dùng 10-15g nhân hạt tam giác mạch, sao
vàng, nấu cháo ăn.
Cải
canh hay còn gọi là cải bẹ
xanh vừa làm rau ăn vừa làm thuốc. Hiện nay, cải canh còn có giá trị làm cảnh
quan cho vùng du lịch sinh thái.
Hạt cải
canh chứa tinh dầu, cho mùi đặc trưng của họ cải, còn gọi là tinh dầu mù tạt.
Theo Y
học cổ truyền, hạt cải canh có vị cay, tính ấm, quy kinh phế. Có tác dụng ôn
phế, trừ đàm hàn, giảm đau, tiêu thũng, tán kết, thông kinh lạc, hành khí, lợi
khí. Dùng trị ho hàn, nhiều đờm, khó thở, sườn ngực trướng tức, xương khớp tê
đau. Ngày dùng 3 - 9g bằng cách sắc hoặc thuốc bột. Cải canh được dùng làm
thuốc trong các trường hợp:
Trị
ho đờm: hạt cải canh, quả tía
tô đồng lượng 6 - 9g, sắc uống hoặc làm thuốc bột. Trị các chứng ho đờm kéo
dài, ho nhiều đờm mà loãng, hen suyễn, đặc biệt ho, hen của người cao tuổi.
Trị mụn nhọt sưng đau, đau họng: hạt
cải canh 9g sao qua, nghiền mịn, thêm chút nước, quấy đều tạo thành dạng hồ
nhão, lấy tăm bông chấm thuốc, bôi vào nơi sưng đau, nếu đau họng thì bôi quanh
vùng ngoài yết hầu, với nhọt bọc hoặc viêm hạch lâm ba thì cũng bôi ở vùng đau,
làm nhiều lần trong ngày.
Trị
đau đầu: hạt cải canh tán mịn,
mặt khác lấy 10g gừng tươi rửa sạch, thái phiến, giã nát, vắt lấy nước cốt. Đem
bột hạt cải canh trộn đều với nước gừng rồi bôi vào vùng gáy, vùng chẩm, hai thái
dương và đỉnh đầu.
Nhận xét
Đăng nhận xét